Bước chân “Thiên di” lập nên bản làng ở nơi biên viễn
(TH&PL) – Từ trên đỉnh dốc, bản Ché Lầu, xã Na Mèo hiện ra dưới thung sâu như một nét chấm phá giữa mênh mông rừng núi biên giới. Trong căn nhà gỗ xám bạc, mái lợp pơ mu, dưới ánh lửa của bên bếp than hồng, ông Thao Văn Sếnh, năm nay đã hơn 80 tuổi kể cho chúng tôi nghe về cuộc “thiên di” của gia đình và hành trình lập bản, dựng làng của đồng bào Mông nơi phên dậu Tổ quốc.
Suối Ché Lầu vẫn chảy róc rách ngày đêm, cụ Thao Văn Sếnh vẫn miệt mài bảo vệ cột mốc biên cương của Tổ quốc. Đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng sức vóc cụ rắn rỏi, tai vẫn thính, chân vẫn bước đi thoăt thoắt như một con “hổ rừng”!
Ngồi bên bếp lửa, trong cái se lạnh đầu đông 2026, được nghe cụ Sếnh kể về những tháng ngày gian nan di cư từ xã Pù Nhi (huyện Mường Lát cũ) sang vùng đất Ché Lầu (xã biên giới Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa) rồi lập một bản làng khi chỉ vẻn vẹn với 8 nóc nhà.
Cụ Sếnh nhớ lại, không riêng gì Pá Hộc mà cả xã Pù Nhi ngày ấy cây thuốc phiện được trồng như ngô gieo trên nương. Để có đất trồng thuốc phiện, rừng bị đốt làm nơi trồng cây cần xa, khiến đói nghèo cứ đeo bám mãi chưa có hồi kết. Cả Pá Hộc trơ trọi chỉ còn lại sỏi đá, với những bóng người lầm lũi, leo lắt giữa làn khói thuốc phiện. Cụ Sếnh đau đáu khi vợ con vẫn đói, bữa cơm chỉ có nồi mèn mén đủ chia mỗi người một phần.

Dù đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng khi nói về bản làng ông Sếnh vẫn nói một cách hào sảng về bản làng người Mông nơi đây. Cụ vốn là người ở bản Pá Hộc, xã Pù Nhi – nơi cây thuốc phiện từng được trồng bạt ngàn từ lâu. Với quyết tâm rời bỏ vùng đất “chết” để đến với nơi có ánh sáng “mặt trời”, năm 1990 cụ một mình lội rừng sang vùng đất mới là vùng Ché Lầu ngày nay, để thăm dò thổ nhưỡng. Sau những ngày tháng ăn rừng ở suối, cuốc nương thử đất, cụ trở về bản và bàn với gia đình rồi đưa ra quyết định đưa gia đình đi di canh, di cư ngay.
Cả gia đình cụ gồm 11 người mang theo chỉ vài cái gùi, xoong nồi, dao dựa và nhu yếu phẩm tích trữ cùng dắt díu nhau vượt đồi núi, rừng rậm, có đoạn phải phát cây mở lối, rồi băng qua đỉnh núi Hin Đăm sát biên giới của nước bạn Lào. Tối đến, dựng lán ngủ trong rừng sâu, nghe tiếng thú rừng gầm rú đến rợn người, suốt cả đêm cụ không tài nào chợp mắt được vì lo cho cả gia đình mà cụ đã có quyết định đưa đi di cư nơi vùng đất mới, trong đêm khó ngủ ấy, bao chăn trở hỗn độn trong ý nghĩ của cụ nhưng không có gì có thể làm đổi thay được ý định đưa cả gia đình cụ cập bến nơi vùng đất mới, có nhiều “ánh sáng’’ hơn với cuộc đời, với tương lai của con cháu cụ, chỉ với ý nghĩ ấy, cụ lại càng có nhiều quyết tâm hơn khi đưa gia đình đến với Ché Lầu xa xôi.

Trải qua 2 ngày đường rừng vất vả, cả nhà đều bình an, gia đình cụ đã tới được Ché Lầu. Khi đó con trai cụ là Thao Văn Thê, lúc ấy anh mới 4 tuổi, cứ lẽo đẽo theo sau bóng cha. Em gái của Thê lúc đó 2 tuổi được mẹ cả ngày địu trên lưng”, cụ Sếnh nhớ lại, các cháu còn nhỏ nên việc di chuyển gặp nhiều khó khăn.
Sau một năm sinh sống tại Ché Lầu, cụ Sếnh cùng em trai đã xuống trung tâm xã Na Mèo xin nhập khẩu. Năm 1994, bản Ché Lầu chính thức thành lập với 8 nóc nhà gỗ thấp. “Khi ấy bản còn hoang vu lắm tất cả đều là con số không tròn chĩnh. Không điện, không đường, chỉ có tiếng suối rì rầm và tiếng thú dữ vọng từ rừng sâu””, cụ Sếnh nhớ lại.

Kể về cuộc sống ở vùng đất mới, với đôi mắt tinh khôi, chứa đầy niềm tin, cụ Sếnh chậm rãi nói: “Tuy nhà 11 miệng ăn, dựa cả vào cây lúa trên nương, cây sắn, cây ngô mình trồng. Nhưng so với nơi cũ thì Ché Lầu đỡ vất vả hơn vì không còn thấy cảnh người thân luôn chìm đắm trong làn khói trắng của thuốc phiện, cái thứ mùi ngai ngái ấy vẫn là nỗi ám ảnh lớn đối với chính cụ và cả gia đình cụ, dù là vậy, ở Ché Lầu đến kỳ giáp hạt cái bụng vẫn đói””, nói rồi cụ Sếnh bẻn lẻn cười trộm như muốn dấu đi sự liều lỉnh của bản thân khi quyết đưa cả gia đình vượt núi đến với Ché Lầu trong sự nguy hiểm khôn lường.
Cụ Sếnh lặng lẽ nhìn vào bếp lửa. Ánh lửa hắt lên gương mặt khiến hình ảnh người đàn ông được ví như “cây đại thụ” của bản thêm trầm tĩnh. Làm trưởng bản nhiều năm, ông gắn bó gần như cả đời với việc bảo vệ cột mốc G12 (nay là 324-325). 31 năm đi giữ mốc, có ngày mưa trơn trượt, có hôm chạm mặt thú rừng, ông vẫn đều đặn bước đi. “Khi mình không còn đủ sức lên cột mốc thì phải động viên, khích lệ con cháu nối gót. Bảo vệ cột mốc, giữ đất, giữ bình yên của bản làng có ý nghĩa thiêng liêng lắm!””, cụ Sếnh nói.
Giờ đây đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, nhưng cụ Sếnh vẫn đau đáu với cột mốc biên cương của Tổ quốc. “Chân còn bước là ta còn đi. Cột mốc chính là chiến sĩ thầm lặng bảo vệ chủ quyền, giữ đất, giữ làng. Ta phải yêu, phải có trách nhiệm”.
Cụ Sếnh có một mong muốn, khi mắt đã mờ, chân sẽ mỏi, con trai cụ là anh Thao Văn Va sẽ tiếp tục thực hiện công việc bảo vệ cột mốc thiêng liêng đó. “Nếu một ngày ta không đi được nữa, sẽ nhớ cột mốc này lắm. Nó đã gắn bó gần nửa đời người, nhất là những năm tháng mới về Ché Lầu tăm tối, đói nghèo, chứng kiến những gian khó mà ta cùng đồng bào ở bản đã vượt qua”, cụ Sếnh tâm sự.
Giờ đây, người dân ở bản đã biết cấy lúa ruộng 2 vụ, không còn lo đói mỗi mùa giáp hạt. Trẻ em được đi học. Ché Lầu có điện, có đường bê tông, có sóng viễn thông. Có người vượt núi đi học đại học, trở về gieo mầm con chữ nơi mảnh đất biên cương xa xôi, trập trùng núi rừng.
Ngày nay Ché Lầu thay da đổi thịt. Cả bản đã có gần 70 hộ, hơn 300 nhân khẩu. Những lớp con em, thanh niên mới lớn được đến trường, tiếp xúc với khoa học – kỹ thuật, mang trong mình tinh thần đổi mới. Họ dám rời bỏ nếp nghĩ cũ kỹ, vượt qua những con dốc hun hút để bước vào những môi trường tiến bộ hơn.
</div






