Định hình chuẩn mực phát triển đô thị theo hướng xanh và phát thải thấp
Đô thị tăng trưởng xanh được định hình qua ba nhóm tiêu chí cốt lõi gồm hạ tầng, môi trường và năng lượng, giảm phát thải. Khung đánh giá mới tạo cơ sở để các địa phương cụ thể hóa mục tiêu phát triển bền vững, phù hợp điều kiện từng giai đoạn.

Phát triển đô thị theo hướng tăng trưởng xanh đang được đặt vào khuôn khổ pháp lý cụ thể, với hệ tiêu chí rõ ràng làm căn cứ đánh giá và triển khai tại từng địa phương. Theo Nghị định số 35/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị, mô hình đô thị tăng trưởng xanh được xác định là quá trình quy hoạch và đầu tư xây dựng bảo đảm các yêu cầu về tăng trưởng xanh, hạ tầng xanh, không gian xanh và công trình xanh, phù hợp đặc thù từng vùng, miền và từng giai đoạn phát triển.
Tinh thần của Nghị định không chỉ dừng ở định hướng mà được lồng ghép xuyên suốt trong các công cụ quản lý. Chương trình phát triển đô thị cấp tỉnh, thành phố theo chu kỳ 10 năm và kế hoạch phát triển đô thị 5 năm đều bắt buộc tích hợp mục tiêu, giải pháp tăng trưởng xanh. Điều này đồng nghĩa với việc mọi quyết sách về mở rộng không gian, đầu tư hạ tầng hay cải tạo đô thị đều phải đặt trong hệ quy chiếu xanh hóa và giảm phát thải.
Khung đánh giá đô thị tăng trưởng xanh được cấu trúc thành ba nhóm tiêu chí chính gồm hạ tầng xanh; môi trường; năng lượng và giảm phát thải. Ở nhóm hạ tầng xanh, các chỉ số tập trung vào năng lực vận hành hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật theo hướng thân thiện môi trường.
Cụ thể là tỷ lệ vận tải hành khách công cộng; tỷ lệ xe buýt sử dụng năng lượng xanh; tỷ lệ phương tiện giao thông cá nhân hạn chế phát thải; việc bố trí đường dành riêng cho xe đạp; tỷ lệ đường đô thị ứng dụng thiết bị, công nghệ tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo cho chiếu sáng; tỷ lệ dân số được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung; cùng diện tích đất cây xanh công cộng bình quân đầu người.
Ở nhóm tiêu chí môi trường, trọng tâm là chất lượng không khí và hiệu quả quản lý chất thải. Các địa phương phải theo dõi chỉ số chất lượng không khí; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt chuẩn, cũng như tỷ lệ số ngày trong năm có nồng độ bụi siêu mịn và bụi mịn vượt ngưỡng cho phép. Đây được xem là những chỉ báo phản ánh trực tiếp chất lượng sống của cư dân đô thị.
Trong khi đó, nhóm năng lượng và giảm phát thải nhấn mạnh đến chuyển dịch cơ cấu tiêu thụ năng lượng và thúc đẩy công trình xanh. Các tiêu chí bao gồm tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng đô thị; tỷ lệ hộ gia đình lắp đặt và sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu; số lượng công trình xanh được xây dựng. Yêu cầu về điện mặt trời mái nhà được coi là một trong những điểm nhấn, thể hiện quyết tâm đưa năng lượng tái tạo trở thành thành tố phổ biến trong không gian đô thị.
Thẩm quyền xác định mức đạt của từng tiêu chí thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trên cơ sở quy định của Nghị định và Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm, quản lý chất lượng môi trường không khí theo từng giai đoạn, địa phương sẽ quy định cụ thể các mức, tỷ lệ áp dụng cho từng đô thị, bảo đảm phù hợp điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ. Cơ chế giám sát, đánh giá cũng phải được thiết lập tương ứng.
Đáng chú ý, các địa phương có thể lựa chọn áp dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chuyên ngành hoặc đặt ra mức cao hơn. Với những tiêu chí chưa có quy chuẩn quốc gia, địa phương được tham khảo chuẩn mực của các nước tiên tiến hoặc tự xác định mức phù hợp thực tiễn từng đô thị.
Nguồn số liệu phục vụ đánh giá được thu thập từ báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Phương pháp tính toán tuân thủ pháp luật về thống kê; trường hợp chưa được quy định trong hệ thống thống kê hiện hành thì thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định.
Việc đánh giá không chỉ dừng ở việc đối chiếu tỷ lệ đạt – chưa đạt, mà còn xem xét hiệu quả quản lý, vận hành hạ tầng xanh; hệ thống thu gom, xử lý rác thải và nước thải; mức độ sử dụng vật liệu phát thải carbon thấp, vật liệu thân thiện môi trường trong các dự án đầu tư xây dựng. Hiệu quả tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo và cắt giảm khí nhà kính được kiểm chứng thông qua hệ thống MRV (Measurement, Reporting and Verification) theo quy định kỹ thuật về đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải và kiểm kê khí nhà kính.
Hằng năm hoặc khi cần thiết, cơ quan được phân công chủ trì sẽ phối hợp các đơn vị chuyên môn tổ chức đánh giá, báo cáo kết quả để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo dõi, chỉ đạo. Với cách tiếp cận này, tăng trưởng xanh không còn là khẩu hiệu, mà trở thành bộ tiêu chuẩn cụ thể, có thể đo lường và giám sát trong quá trình phát triển đô thị.
</div






