Xác lập mô hình tăng trưởng mới cho Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình
Sau gần bốn thập niên Đổi Mới, mô hình tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư theo chiều rộng đã tiệm cận giới hạn. Áp lực cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, yêu cầu phát triển bền vững trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, trong khi các chuỗi giá trị quốc tế đang tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ và địa chính trị. Kỷ nguyên vươn mình vì thế không chỉ là khát vọng, mà là đòi hỏi tất yếu về một mô hình tăng trưởng mới, nơi tốc độ, chất lượng và tính bền vững phải song hành.
Khi tăng trưởng không thể chỉ đo bằng quy mô
Trong giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng không còn được đo chủ yếu bằng số lượng dự án, vốn đầu tư hay sản lượng, mà bằng năng suất, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng. Việt Nam không thể tiếp tục cạnh tranh bằng chi phí thấp, cũng không thể duy trì cách làm “làm nhiều để bù ít”. Thay vào đó, bài toán đặt ra là làm thế nào để mỗi đơn vị lao động, mỗi đồng vốn và mỗi đơn vị tài nguyên tạo ra giá trị cao hơn.
Chính trong bối cảnh ấy, kinh tế số nổi lên như động cơ trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Thương mại điện tử, fintech, logistics thông minh, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo không còn là những lĩnh vực riêng lẻ, mà đang trở thành hạ tầng của mọi ngành kinh tế. Khi Chính phủ số – doanh nghiệp số – công dân số kết nối liền mạch, nền kinh tế vận hành nhanh hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.
Song song với đó, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn đã chuyển từ lựa chọn sang điều kiện bắt buộc. Giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, tái chế và tái sử dụng không chỉ nhằm bảo vệ môi trường, mà còn là “giấy thông hành” để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tiêu chuẩn ESG đang dần trở thành thước đo năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đổi mới sáng tạo – nền móng của bứt phá
Nếu kinh tế số là động cơ, thì đổi mới sáng tạo chính là nền móng. Không thể có tăng trưởng nhanh và bền vững nếu chỉ dựa vào công nghệ nhập khẩu. Tư duy “tự làm ra công nghệ” cần được nuôi dưỡng thông qua hệ sinh thái khởi nghiệp mạnh, sự kết nối chặt chẽ giữa viện nghiên cứu –trường đại học – doanh nghiệp, cùng các cơ chế sandbox cho công nghệ mới.
Đổi mới sáng tạo cũng là con đường để Việt Nam tái cấu trúc ngành kinh tế, chuyển từ gia công sang các phân khúc giá trị cao. Công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ sạch, nông nghiệp công nghệ cao hay logistics lạnh không chỉ là những ngành tiềm năng, mà là những mắt xích quan trọng giúp nâng cấp chuỗi giá trị, từ thiết kế, thương hiệu đến dịch vụ hậu mãi.
Trong mô hình này, Nhà nước kiến tạo – doanh nghiệp dẫn dắt – người dân đồng hành trở thành cấu trúc vận hành chủ đạo. Nhà nước giữ vai trò tạo lập thể chế minh bạch, pháp lý thông thoáng và hạ tầng số; doanh nghiệp chủ động đổi mới, nâng chuẩn quản trị và đầu tư công nghệ; người dân không ngừng nâng cao kỹ năng số và tư duy toàn cầu.

Mô hình tăng trưởng phù hợp cho Việt nam
Từ thực tiễn và xu thế quốc tế, Việt Nam có thể định hình mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất – số hóa – xanh –đổi mới sáng tạo. Trong đó, năng suất là động cơ trung tâm. Tự động hóa trong sản xuất, logistics và nông nghiệp; đào tạo lại lực lượng lao động theo hướng kỹ năng số và công nghệ; nâng cấp quản trị doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế; khuyến khích đầu tư vào R&D thay vì chỉ mở rộng quy mô. Mục tiêu tăng năng suất lao động bình quân 5–6%/năm không chỉ là con số, mà là thước đo chất lượng tăng trưởng.
Kinh tế số được xác định là trụ cột dài hạn, với đích đến chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 và 40% GDP vào năm 2045. Chính phủ số với dịch vụ công trực tuyến toàn diện, doanh nghiệp số lấy dữ liệu làm trung tâm và công dân số với kỹ năng số phổ cập sẽ tạo nên nền tảng cho AI, dữ liệu mở, thanh toán số và thương mại điện tử xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ. Tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn gắn với mục tiêu giảm 43% phát thải vào năm 2030 theo cam kết quốc tế. Năng lượng tái tạo như gió, mặt trời, hydro xanh; chuỗi cung ứng xanh cho dệt may, da giày, điện tử; cùng kinh tế tuần hoàn trong nhựa, thép, xi măng và nông nghiệp sẽ giúp Việt Nam vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đổi mới sáng tạo hướng tới mục tiêu chi cho R&D đạt khoảng 2% GDP vào năm 2035, thông qua các trung tâm đổi mới sáng tạo tầm khu vực, sandbox cho fintech, AI, xe tự hành, y sinh và chính sách thu hút chuyên gia toàn cầu.
Song song với đó là tái cấu trúc ngành và phát triển không gian kinh tế. Ba siêu vùng động lực Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, TP.HCM – Bình Dương – Đồng Nai, Đà Nẵng –Thừa Thiên Huế – Quảng Nam, cùng hệ thống đô thị thông minh và hạ tầng chiến lược, sẽ tạo lực kéo cho tăng trưởng dài hạn, hướng tới mục tiêu 70% dân số sống ở đô thị vào năm 2045.

Doanh nghiệp – hạt nhân của mô hình tăng trưởng mới
Trong bối cảnh cạnh tranh mới, doanh nghiệp muốn tăng trưởng nhanh và bền vững cần chuyển sang mô hình “tăng trưởng dựa trên giá trị – công nghệ – khách hàng – vận hành – con người – tài chính”.
Tăng trưởng dựa trên giá trị đòi hỏi doanh nghiệp xác định rõ định vị cốt lõi, tập trung vào sản phẩm, dịch vụ có biên lợi nhuận tốt và loại bỏ những hoạt động không tạo giá trị.
Tăng trưởng dựa trên công nghệ là chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng AI, tự động hóa quy trình và phân tích dữ liệu để nâng năng suất 20–40% và giảm chi phí 10–30%. Tăng trưởng dựa trên khách hàng hướng tới trải nghiệm, cộng đồng trung thành và dịch vụ sau bán hàng, giúp tăng tỷ lệ giữ chân khách hàng 15–25%.
Tăng trưởng dựa trên vận hành là chuẩn hóa quy trình, quản trị chuỗi cung ứng thông minh và kiểm soát chất lượng theo chuẩn quốc tế. Tăng trưởng dựa trên con người đặt trọng tâm vào văn hóa học tập, đổi mới và cơ chế đãi ngộ gắn với hiệu suất. Cuối cùng, tăng trưởng dựa trên tài chính thông minh giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô mà không rơi vào rủi ro.
Kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Tăng trưởng không còn dựa trên số lượng, mà dựa trên năng suất, công nghệ và trí tuệ. Tóm lại, mô hình tăng trưởng cho Việt Nam trong giai đoạn mới có thể được khái quát bằng công thức: Năng suất + Số hóa + Xanh + Đổi mới sáng tạo + Chuỗi giá trị cao + Đô thị thông minh + Thể chế kiến tạo. Đây không chỉ là lựa chọn chiến lược, mà là con đường để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, vững vàng bước vào tương lai với tâm thế tự tin và chủ động.
TS Trần Quang Thắng
Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP.Hồ Chí Minh






